Bảo vệ an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới

Dự án Luật Biên phòng Việt Nam được xây dựng nhằm luật hóa việc tổ chức xây dựng nền biên phòng toàn dân, thế trận biên phòng toàn dân trong quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia với Bộ đội Biên phòng là lực lượng chuyên trách; đáp ứng yêu cầu xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, khu vực biên giới trong tình hình mới.

Bảo vệ an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới

Bộ trưởng Quốc phòng Ngô Xuân Lịch, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Tờ trình về dự án Luật Biên phòng Việt Nam. Ảnh: Quochoi.vn

Ngày 21-5, thực hiện chương trình kỳ họp, Quốc hội nghe đồng chí Ngô Xuân Lịch, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Quốc phòng thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Tờ trình về dự án Luật Biên phòng Việt Nam; Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng – An ninh Võ Trọng Việt báo cáo thẩm tra dự án Luật Biên phòng Việt Nam.

Dự án Luật Biên phòng Việt Nam là một trong sáu dự án luật được trình Quốc hội cho ý kiến lần đầu tại kỳ họp lần này.

Hoàn thiện hệ thống pháp lý về xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia

Việc xây dựng, ban hành Luật Biên phòng Việt Nam nhằm thể chế hóa nhiều chủ trương, quan điểm, tư duy mới của Đảng, Nhà nước về bảo vệ Tổ quốc; xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia trong tình hình mới.

Xuất phát từ vị trí, tầm quan trọng của biên giới quốc gia, đây là vấn đề chiến lược, lâu dài của Đảng, Nhà nước trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và yêu cầu xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, nhất là Bộ đội Biên phòng đáp ứng yêu cầu làm nòng cốt, chuyên trách quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia trong tình hình mới.

Hiện nay, hoạt động trên biên giới, khu vực biên giới, cửa khẩu có nhiều lực lượng thuộc các bộ, ngành với nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại các văn bản pháp luật chuyên ngành. Tuy nhiên, thực tế thực thi nhiệm vụ biên phòng còn những hạn chế, bất cập; công tác phối hợp giữa các bộ, ngành, chính quyền địa phương, lực lượng nòng cốt, chuyên trách với các lực lượng chức năng ở khu vực biên giới, cửa khẩu chưa chặt chẽ, hiệu quả chưa cao. Bên cạnh đó, việc đầu tư của nhà nước, địa phương vào một số chương trình, mục tiêu quốc gia tại vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn vẫn còn dàn trải, chất lượng, hiệu quả chưa đáp ứng yêu cầu xây dựng biên giới quốc gia, khu vực biên giới vững mạnh.

Hơn nữa, Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng ra đời cách đây hơn 20 năm trong điều kiện, bối cảnh lịch sử hoàn toàn khác với hiện nay. Pháp lệnh chỉ điều chỉnh các vấn đề liên quan đến Bộ đội Biên phòng, chưa đề cập đến các chủ thể khác trong xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, khu vực biên giới. Một số quy định liên quan đến hạn chế quyền con người, quyền công dân chưa phù hợp với Hiến pháp năm 2013; nhiều nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ đội Biên phòng không được quy định trong Pháp lệnh mà quy định tại các luật khác và văn bản dưới luật dẫn đến tình trạng khó theo dõi, thiếu thống nhất, gây khó khăn cho quá trình thực thi nhiệm vụ biên phòng của Bộ đội Biên phòng. Tổng kết 20 năm thi hành Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng, các ban, bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố có biên giới đều thống nhất kiến nghị, báo cáo Quốc hội xây dựng Luật Biên phòng Việt Nam.

Quang cảnh phiên làm việc sáng ngày 21-5. Ảnh: Quochoi.vn

Thực tiễn hơn 60 năm qua, Bộ đội Biên phòng đã và đang áp dụng có hiệu quả các hình thức, biện pháp công tác biên phòng nhưng chưa được luật hóa; việc tổ chức xây dựng nền biên phòng toàn dân, thế trận biên phòng toàn dân trong quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia chưa được quy định cụ thể nên thiếu cơ sở pháp lý để các cơ quan, lực lượng chức năng và Bộ đội Biên phòng trong thực thi nhiệm vụ xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, khu vực biên giới.

Biên giới quốc gia là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia là trách nhiệm của các cấp, các ngành và của cả hệ thống chính trị. Để bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia đang đặt ra cần thiết phải có hệ thống văn bản pháp lý đồng bộ, thống nhất. Vì vậy, việc ban hành Luật Biên phòng Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, cần thiết; đáp ứng yêu cầu xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, khu vực biên giới trong tình hình mới.

Rà soát, làm rõ tránh trùng lắp với các luật khác

Báo cáo thẩm tra nêu rõ, Ủy ban Quốc phòng – An ninh cơ bản nhất trí về sự cần thiết ban hành Luật Biên phòng Việt Nam, nhằm thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng về biên giới quốc gia, trong đó có Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 28-9-2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia (Nghị quyết số 33-NQ/TW), quy định của Hiến pháp về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; tiếp tục hoàn thiện pháp luật về tổ chức, hoạt động của Bộ đội Biên phòng (BĐBP) nhằm khắc phục những hạn chế, vướng mắc, bất cập trong quá trình tổ chức thực hiện Pháp lệnh BĐBP, nâng cao hiệu quả hoạt động, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

Tuy nhiên, một số ý kiến cho rằng, lý do ban hành Luật nêu trong Tờ trình chưa quán triệt đầy đủ quan điểm tại Nghị quyết số 33-NQ/TW, mà mới triển khai xây dựng dự án Luật Biên phòng Việt Nam khi Dự thảo Luật chỉ có 01 Chương về lực lượng BĐBP trên cơ sở luật hóa Pháp lệnh BĐBP. Vì vậy, cần tổng kết, đánh giá để kiến nghị sửa đổi, bổ sung Luật Biên giới quốc gia, pháp luật khác có liên quan; quy định đầy đủ, cụ thể các chính sách mới và nội hàm của Luật Biên phòng Việt Nam cho phù hợp quan điểm của Đảng và yêu cầu thực tiễn.

Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng – An ninh Võ Trọng Việt trình bày Báo cáo thẩm tra dự án Luật Biên phòng Việt Nam. Ảnh: Quochoi.vn

Ủy ban Quốc phòng – An ninh cho rằng, hồ sơ dự án Luật cơ bản bảo đảm đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đủ điều kiện trình Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp lần này. Tuy nhiên, đây là một đạo luật mới nên cần đánh giá kỹ ba nhóm chính sách được xác định trong Báo cáo đánh giá tác động để làm rõ mục đích, yêu cầu xây dựng luật.

Cụ thể, ba nhóm chính sách là: Xác định rõ nhiệm vụ biên phòng; Luật hóa quy định về hình thức quản lý, bảo vệ biên giới của BĐBP; Chuẩn hóa, quy định nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng thực thi nhiệm vụ biên phòng chủ yếu liên quan đến BĐBP. Đồng thời, cần lấy ý kiến của các đối tượng chịu sự tác động, đánh giá việc thực hiện các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có liên quan và cung cấp thêm thông tin về pháp luật, kinh nghiệm của một số nước trong quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia.

Bên cạnh đó, một số ý kiến cho rằng, bố cục của dự thảo Luật chưa hợp lý, rõ ràng; nếu giữ tên “Luật Biên phòng Việt Nam” thì cần sắp xếp lại các chương, điều và chỉnh lý lại nội dung cho phù hợp, tránh mâu thuẫn, trùng lắp với quy định về xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia tại các luật khác, nhất là Luật Biên giới quốc gia, đồng thời rà soát, chỉnh lý để bảo đảm tính logic, cân đối, thống nhất giữa các chương, điều, nội dung xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, khu vực biên giới và các lực lượng thực thi nhiệm vụ.

Đặc biệt về nhiệm vụ của BĐBP, có ý kiến đề nghị cân nhắc nhiệm vụ “tổ chức quản lý, bảo vệ đường biên giới quốc gia” và “tổ chức thực thi pháp luật về biên giới quốc gia”, vì còn nhiều lực lượng có liên quan khác có trách nhiệm thực hiện các quy định về xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia.

Do đó, Ủy ban Quốc phòng – An ninh đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu các ý kiến để chỉnh lý phù hợp, bảo đảm cân đối giữa các nội dung quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, khu vực biên giới và các lực lượng thực thi nhiệm vụ biên phòng.

Chính sách Nghiên cứu